.
.

Kết thúc cuộc đời với giải pháp cầu siêu


Đạo Phật quan niệm chết không phải là hết mà chết là thay đổi một kiếp sống nên cũng không có gì đáng sợ cho lắm, chỉ sợ là ta không biết gieo trồng phước đức mà thôi. Ta sống kiếp này già chết thì chuyển sang kiếp khác, có thân khác tốt hơn, giống như ta thay một cái áo mới vậy mà.

Nếu kiếp này tu tốt thì kiếp sau sanh vào chỗ tốt hơn, sang trọng hơn. Nếu kiếp này không tu mà lại còn bất hiếu với cha mẹ nữa thì kiếp sau sanh vào chỗ nghèo khó, bần cùng.

Cầu siêu là cầu nguyện Tam bảo gia hộ cho thần thức người đã mất được nhẹ nhàng, siêu thoát về các cõi lành. Trong kinh Địa Tạng có nói rõ tác dụng của sự cầu nguyện cho người chết rằng: Trong 7 phần công đức, người cầu siêu được hưởng sáu phần, người chết chỉ hưởng được một phần mà thôi.

Tại sao người chết chỉ hưởng được một phần? Điều này dễ hiểu thôi, vì khi tụng kinh để cầu siêu, người tụng kinh phải tập trung cao độ để lắng tâm trong sạch, nên ngay khi đó ba nghiệp thân-miệng-ý được thanh tịnh; miệng đọc lời kinh, tai lắng nghe và ý chú tâm vào lời kinh; do đó phát sinh năng lực công đức trước nhất là cho người tụng, rồi những người tụng đó sử dụng năng lượng công đức ấy để hướng đến người đã chết. Vì vậy, người mất chỉ nhận được một phần tâm linh thanh tịnh ấy mà thôi.

Như trường hợp của Tôn giả Mục Kiền Liên sau khi xuất gia làm đệ tử Phật, nhờ siêng năng, tinh cần tu tập, nên Tôn giả đã chứng quả giác ngộ giải thoát. Vì nhớ thương mẹ mình sau khi chết không biết tái sinh nơi đâu, Tôn giả vận dụng thần thông tìm kiếm khắp nơi, cuối cùng thấy mẹ đang bị đọa trong loài quỉ đói, thân thể tiều tụy, ốm o gầy mòn, đói khát, vật vờ, trông rất thảm thương.

Động lòng thương xót mẹ, Tôn giả trở lại trần gian xin được một bát cơm, hai tay cung kính dâng lên mẹ. Bà Thanh Đề thấy bát cơm mừng quá do đói khát lâu ngày nên vội vàng lấy một tay che bát cơm lại vì sợ các quỷ khác thấy xin ăn, tay còn lại bà bốc cơm ăn. Nhưng nghiệt ngã thay, bỗng dưng cơm hóa thành lửa, bà ăn không được nên lòng thèm khát, khổ sở vô cùng, làm cho Tôn giả xúc động, nghẹn ngào mà hai hàng lệ rơi.

Bát cơm của Tôn giả dâng lên cho mẹ bằng tất cả tấm lòng tưởng làm no lòng mẹ, ngờ đâu cơm hóa thành lửa ăn không được, nên bà phải chịu khổ sở, đói khát và đớn đau vô cùng.

Bà Thanh Đề lúc còn sống vì không tín kinh Tam bảo, lúc nào cũng tham lam, bỏn sẻn, keo kiết, ích kỷ, không biết bố thí hay giúp đỡ cho ai, nên sau khi chết phải bị đọa vào loài quỉ đói.

Nhìn cảnh mẹ đói khát, khổ sở mà không có cách nào giúp được, Tôn giả đành thương xót, ngậm ngùi trở về bạch Phật tìm cách cứu mẹ.

Phật dạy Mục Kiền Liên báo hiếu cha mẹ

Phật dạy, “nhân mùa an cư kiết hạ và lễ tự tứ của chư Tăng, ông hãy phát tâm cúng dường trai Tăng, nhờ công đức tu hành của đại chúng, vì đa số quý thầy tâm thanh tịnh, trong sáng, nên có thể làm cho mẹ ông thức tỉnh, buông xả tâm ích kỷ nhỏ nhoi mà được thác sinh về cõi an lành”.

Tôn giả nghe lời Phật dạy bèn trở về quê nhà vận động gia đình, người thân phát tâm tịnh tài, tịnh vật cúng dường trai tăng; nhờ vậy, mẹ Ngài thoát khỏi kiếp quỉ đói và được sinh về cảnh giới an lành.

Nhìn từ góc độ thực tế cuộc đời, loài quỉ đói cũng có trong loài người. Đó là người hay thiếu trước hụt sau, cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc, chết đói chết khát, bị gông cùm xiềng xích.

Người giàu có chứa nhiều của cải để cho mục nát, hư hại mà không dám đem ra giúp người, cứu vật; hoặc đã giàu rồi mà còn tham lam tìm cách vơ vét về cho riêng mình.

Tâm ham muốn và thèm khát quá đáng cũng là loài quỉ đói. Chúng ta làm người hãy nên chiêm nghiệm, suy xét kỹ chỗ này. Thà rằng một miếng khi đói bằng một gói khi no, bố thí cúng dường, hồi hướng công đức cho những người đã mất, thì sẽ được lợi ích lớn lao như vậy.

Tại sao bà Thanh Đề được siêu thoát nhờ lực thanh tịnh của chư Tăng? Ở đây có hai điểm chúng ta cần phải lưu ý và suy xét.

Thứ nhất, nhờ sức thanh tịnh của chư Tăng hướng tâm về bà làm bà thức tỉnh, biết nhân dính mắc, tham chấp, hại người, hại vật là khổ đau; do đó, bà liền được sinh về cõi an lành.

Thứ hai là nếu trong nhiều đời và hiện tại bà không gieo nhân phước đức, thì dù có chư Phật hộ trì cũng không thể nào cứu được.

Như trong kinh đã nói, “nếu một người tạo mười nghiệp ác như giết hại, trộm cướp, lường gạt, tà dâm, phá hoại hạnh phúc gia cang của người khác, nói dối hại người, nói lời mắng chửi, nói lời mê hoặc dụ dỗ, nói lời đòn xóc hai đầu, tham lam quá đáng, nóng giận đánh đập và cuối cùng là si mê, thì ví như tảng đá lớn quăng xuống nước sâu, dù có ngàn người cầu cho nó nổi lên vẫn không được”.

Điều chính yếu của sự cầu nguyện trong đạo Phật là sự chuyển hoá và thay đổi nghiệp lực. Nếu mình đã gây quá nhiều ác nghiệp thì việc cầu nguyện là vô ích.

Cầu nguyện theo cách thức chuyển ác thành thiện thì sự cầu nguyện ấy được đạo Phật khuyến khích và chấp nhận, nhằm giúp cho những người chưa đủ niềm tin về nhân quả và chính mình để họ có chỗ hướng tâm mà từng bước quay về con đường thiện lành, tốt đẹp.

Cầu siêu cho ông bà, cha mẹ, người thân còn nói lên ý nghĩa bày tỏ lòng biết ơn và đền ơn đối với các liệt vị tiền nhân đã sinh ra và nuôi dưỡng ta nên người. Chim có tổ, người có tông, ăn trái nhớ kẻ trồng cây, uống nước nhớ nguồn là chân lý, đạo đức làm người. Con người nếu không biết rõ cội nguồn giống như cây bị bứng gốc rễ.

Thế cho nên, cầu nguyện, cúng bái, tưởng nhớ ông bà cha mẹ, bà con thân quyến, nói lên sự kết nối yêu thương, mong cho họ được siêu thoát, là bài học đạo lý hiếu thảo, thể hiện sự biết ơn và đền ơn đã ăn sâu vào trong tâm thức của con người Việt Nam.

Tuy nhiên, theo lời dạy của Thế tôn trong kinh “Cúng thí người mất”, chỉ khi nào cha mẹ người thân bị đọa vào cảnh giới quỉ đói thì sự cúng thí đó mới được tương xứng và người đó được thọ nhận thức ăn cúng thí. Ngoài ra, những người nào sau khi qua đời bị đọa vào địa ngục, súc sinh, người, thần Tu La và chư thiên thì không nhận được các thức ăn đó.

Chính vì vậy, trong kinh Địa tạng nói người mất chỉ hưởng một phần là lý do đó, còn chúng sinh trong các loài khác đã có thức ăn phù hợp với hoàn cảnh tương xứng rồi. Sự cầu siêu chỉ mang tính cách biểu tượng thể hiện tấm lòng thương kính và biết ơn đối với người đã chết; về phương diện đạo đức nó nhằm nhắc người đã mất không bám víu vào gia đình, vợ con, tiền bạc, tài sản, để dễ dàng ra đi và tái sinh cõi lành.

Cúng bái tổ tiên, ông bà, cha mẹ theo tinh thần biết ơn và đền ơn thì người sống và kẻ mất đều được lợi lạc. Đó là nét đẹp văn hóa tâm linh của người cư sĩ tại gia và đạo pháp dân tộc.

Nói tóm lại, đối với nghi thức cầu siêu ta cũng nên giản đơn mà trang trọng, tránh mọi sự rộn ràng không cần thiết có thể làm cho vong linh người thân dao động, luyến ái, hoặc tức giận nên khó siêu sinh Tịnh độ hoặc tái sinh vào các cõi an lành. Nếu có thể ta nên hạn chế sự khóc lóc làm ảnh hưởng đến người chết, không nên tổ chức nhạc kèn trống, hoặc tất cả những hình thức phô trương lãng phí, lại càng không nên mở tiệc tùng, giết trâu bò, heo gà, uống rượu, cờ bạc sáng đêm, rồi nói rằng “thức để canh đám ma”.

Thay vào tất cả những hình thức không có lợi ích thiết thực, chúng ta nên mời chư Tăng đến khai thị, nhắc nhở, khuyên nhủ, niệm Phật, tụng kinh, làm nhiều Phật sự thiện ích, như phóng sinh, bố thí, cúng dường Tam bảo và bố thí, giúp đỡ người bệnh tật, già yếu, nhằm chia sẻ và nâng đỡ để làm vơi bớt nỗi đau bất hạnh. Cúng thí cầu nguyện như vậy là thể hiện tình người trong cuộc sống bằng sự kết nối yêu thương. Kẻ âm, người dương đều được lợi ích.

Tờ giấy cầu siêu này ai cũng nắm chắc trong tay, chỉ đến sớm hay muộn mà thôi. Nếu vậy thì trong hiện đời ta phải sống như thế nào để đến khi ra đi được an ổn, nhẹ nhàng. Nếu ta biết tin sâu nhân quả và cố gắng làm những điều thiện lành, tốt đẹp thì khỏi lo lắng gì, dù có chết kiểu nào đi nữa cũng không phải hồi hợp, lo sợ mình sẽ đi về đâu?

Như vua Ma Ha Nam hỏi Phật “bình thường con quy y Tam bảo, gìn giữ năm điều đạo đức, thọ bát quan trai, tu mười điều thiện và biết bố thí cúng dường, lo cho dân, cho nước với tinh thần đoàn kết, yêu thương, giúp đỡ lẫn nhau. Nếu lỡ bất thình lình con bị chết bất đắc kỳ tử thì sau khi chết con sẽ đi về đâu?”

Phật không trả lời trực tiếp mà hỏi lại đức vua Ma Ha Nam “ví như có một thân cây đang nghiêng về một bên, vậy khi cưa nó sẽ ngã về bên nào?” Vua trả lời “dĩ nhiên nó sẽ ngã về bên đang nghiêng”.

Phật nói “cũng vậy, bình thường ông làm việc tốt đã thuần thục thì đương nhiên nhân nào quả nấy, nhân tốt thì quả tốt; nhân giữ giới thì trở lại làm người có nhân cách và đạo đức; nhân thọ bát quan trai thì sống trang nghiêm, thanh tịnh; nhân tu thập thiện thì tái sinh các cõi trời, muốn gì được đó; duyên đầy đủ thì sống đến trăm tuổi; duyên không trọn vẹn thì ra đi sớm hơn”.

Nhà Phật không quan trọng sống thọ hay chết yểu mà khi sống ta có làm được việc gì có ích hay không mà thôi. Dù sống đến trăm năm mà không làm lợi ích gì được cho ai, chi bằng sống vài ba chục năm mà giúp được nhiều người cùng sống tốt với mình và tin sâu nhân quả, ý thức được trách nhiệm của mình bằng tình người trong cuộc sống thì mới là chân lý.

Vậy, trước khi cầm tờ giấy cầu siêu để kết thúc cuộc đời, chúng ta cần phải tin sâu nhân quả và cố gắng làm những điều tốt đẹp nhất để đến khi ra đi khỏi phải lo lắng, bận lòng sau khi chết mình sẽ đi về đâu?

Thích Đạt Ma Phổ Giác